Lang thang trên Facebook bỗng thấy có bài đăng của ai đó hỏi về nghĩa của từ viết tắt “HM”, “FM” là gì, bài đăng được đăng trong cộng đồng diễn đàn chạy bộ (r4s) và nhận được nhiều lời troll của cộng đồng mạng, trong đó mình nhớ cậu bạn của mình comment “HM” = 100 kilomet; “FM” = 160kilomet. Mỉm cười nhếch mép một cái vì vừa buồn cười vừa nghĩ lại mình hồi năm ngoái, khi ấy mới “xuống hố” chạy bộ cũng không hiểu những kí hiệu, thuật ngữ ấy là gì, đã thế lúc ấy mình còn ngồi ngấu nghiến cái blog của Crush, một bài thôi mà mình đọc đi đọc lại tới lần quay lại thứ ba mình mới hiểu vì lúc ấy mình cũng chạy xong 1 cái FM rồi quay lại mới hiểu đó.

Đó, vì lẽ đó mình nghĩ mình nên chia sẻ bài viết này, bởi biết đâu một ngày nào đó cũng có ai đó crush mình hay fans của mình ngồi ngấu nghiến cái blog của mình mà lại không hiểu mình viết gì thì hơi buồn, nên mạnh dạn sưu tầm và chia sẻ những thuật ngữ viết tắt này dựa trên kinh nghiệm và cách hiểu cá nhân cũng như tham khảo có chắt lọc nhiều nguồn khác nhau.

Bắt đầu luôn với thuật ngữ HM, FM của bạn bên trên hỏi nhé, mình nghĩ những thuật ngữ này bất kì newbie nào cũng nên biết

HM: là cụm từ viết tắt của Half-Marathon, tương đương cự ly 21.0975 km, hay mọi người cũng nói gắn gọn là 21K, là một cự ly chạy bộ đường trường (distance running)

FM:  là cụm từ viết tắt của Full-marathon, tương đương cự ly 42.195 km, hay mọi người cũng nói gắn gọn là 42K, là một cự ly chạy bộ đường trường

Tiếp theo là 5k;10k hay tương tự thế

5k: 5 kilomet

10k: 10kilomet

Tiếp theo là những thuật ngữ theo mình mọi runners nên biết

Mile: dặm (đơn vị)

Km: kiliomet (đơn vị)

Strava: Một app dùng để theo dõi quá trình tập luyện như chạy bộ, đạp xe, bơi lội cũng như một dạng mạng xã hội dành cho người tập luyện thể thao theo dõi quá trình tập luyện của nhau cũng như kết nối nhau

Pace: (tốc độ) là thuật ngữ được dùng phổ biến trong chạy bộ để tính tốc độ chạy. Pace được tính dựa trên số phút hoàn thành 1 km hoặc 1 dặm. Ví dụ: Pace 6:00/km: chạy với tốc độ 6 phút/km

Race: là chỉ một giải đấu, cuộc đua

BIB: hiểu đơn giản là số báo danh thi đấu

DNF: viết tắt của Did not finish: Để chỉ một người tham gia thi đấu nhưng vì lí do nào đó không hoàn thành cự ly mình đăng kí

DNS: viết tắt của Did not start: Để chỉ một người đăng kí ghi danh tham gia thi đấu nhưng không tham gia thi đấu vào ngày diễn ra cuộc đua

PR: viết tắt của từ Personal Record, có nghĩa là kỷ lục cá nhân. PR được dùng để làm mục tiêu phấn đấu trong chạy bộ của runner

PB: viết tắt của Personal Best, cũng có nghĩa là thành tích tốt nhất cá nhân trong thi đấu.

Vậy câu hỏi mình cũng từng đặt hỏi Coach mình là sự khác nhau giữa PR vs PB là gì (Personal Record vs. Personal Best): thì sau khi nghe giải thích và đi vài lần thi đấu thì mình cá nhân nghiệm ra và tin là PR thông thường chỉ thành tích cá nhân thông thường như một ứng dụng nào đó công nhận (ví dụ ứng dụng strava hay tặng bạn PR); còn PB được sử dụng trong giấy chứng nhận của các cuộc thi đấu được tổ chức chính thức của các đơn vị tổ chức giải đấu xác nhận thành tích của bạn, đôi khi bạn có thể sử dụng PB để đi đăng kí các giải đấu tầm cỡ quốc tế có yêu cầu tiêu chuẩn thi đấu với runners.

Interval Run: trong tiếng Việt nghĩa là chạy biến tốc, dịch sát nghĩa là chạy theo đoạn ngắn. Interval Run thường được dùng để luyện tốc độ, sức chịu đựng, độ dẻo dai. 

Jogging: là một hình thức đi bộ / chạy bộ thư giãn ở tốc độ chậm và thoải mái. Mục đích chính của Jogging là để cải thiện thể chất, duy trì sức khỏe, không đặt nặng chuyện thành tích nhanh chậm

Longrun: Là các buổi chạy dài trong tuần, thông thường các giáo án hướng dẫn tập luyện thường 1 tuần có một buổi chạy dài. Các buổi chay dài theo tôi nên chạy ở tim zone 3, vì các buổi chạy Long Run được sử dụng để rèn luyện sức chịu đựng của cơ thể. Cự ly hay thời gian của các buổi chạy dài sẽ tùy thuộc vào khả năng hiện tại của bạn. 

Base Run:  là các buổi chạy có cự ly trung bình-ngắn được thực hiện ở tốc độ quen thuộc của bạn. Mục đích của Base Run là để xây dựng sức bền

Recovery Run dịch sát nghìa là chạy phục hồi. Các bài tập chạy phục hồi là các buổi chạy cự ly ngắn ở tốc độ chậm, nhẹ nhàng thư giãn. Mục đích của Recovery Run để duy trì thể lực và thói quen chạy bộ trong khi vẫn bảo đảm cơ thể có thời gian nghỉ ngơi, phục hồi. Recovery Run thường được áp dụng ngay sau các buổi chạy dài, chạy nhanh.

Tempo Run là các buổi chạy ở tốc độ không đổi, duy trì liên tục ở tốc độ cao hơn mức trung bình mà bạn áp dụng trong các buổi chạy Base Run. Tốc độ chạy trong các buổi Tempo Run thường là tốc độ bạn muốn áp dụng trong giải chạy sắp đến hoặc chậm hơn một chút. Mục tiêu của bạn là phải duy trì tốc độ này liên tục ít nhất 20-60 phút tùy vào kinh nghiệm. Mục đích của Tempo Run nhằm giúp luyện tốc độ và sự dẻo dai. Tempo Run thường được sử dụng trong giai đoạn cuối của giáo án, nhằm chuẩn bị tốt nhất cho giải chạy mà bạn đang luyện tập để tham gia.

Progressive Run (Chạy tăng tốc) là buổi chạy được bắt đầu ở tốc độ quen thuộc mà bạn hay sử dụng trong các buổi chạy xây dựng nền tảng (Base Run) và từ từ tăng tốc đến khi kết thúc. Tốc độ ở giai đoạn cuối của buổi chạy thường tương ứng với tốc độ bạn dự định áp dụng khi thi đấu.

Negative Spilits: Nửa đầu chạy chậm hơn nửa sau

Fartlek nghĩa là “trò chơi tốc độ” trong tiếng Thụy Điển. Các buổi chạy Fartlekđược xây dựng dựa trên các buổi chạy nền (Base Run) và được pha trộn thêm các bài tập biến tốc (Interval Run). Các bài tập Fartlek không có cấu trúc rõ ràng như các bài tập Interval Run mà được pha trộn, thay đổi liên tục nhiều tốc độ, cự ly khác nhau. Bạn có thể tùy thích sáng tạo ra bài tập cho riêng mình. Do đó, Fartlek được xem như món giải trí, giúp thay đổi gia vị, tạo hứng khởi trong giáo án tập luyện của bạn.

Cadence: dịch sát nghĩa là “nhịp bước chạy”, được định nghĩa là số bước chân di chuyển trong một phút. Bạn có thể tính toán cadence bằng cách đếm số lần bàn chân tiếp đất trong 60 giây

Stride: sải chân

Hill repeats có thể được hiểu là các buổi chạy lên dốc được lập đi lập lại. Bạn sẽ phải thực các đoạn chạy lên đồi, lên dốc liên tục trong suốt buổi tập. Các bài tập này giúp rèn luyện sức mạnh, khả năng hô hấp và sức chịu đựng ở cường độ cao. Độ dốc lý tưởng cho các buổi chạy Hill Repeats là từ 4-6%. Bạn có thể sử dụng máy chạy bộ để giả lập nếu xung quanh không có địa hình tập luyện

Taper: Giai đoạn nghỉ ngơi trước thi đấu, theo mình thông thường sẽ là 1-2 tuần trước thi đấu thì sẽ giảm tảm lượng tập

RICE là từ viết tắt của 4 bước Rest, Ice, Compression, Elevation. Đây là 4 kỹ thuật được dùng để chữa trị và hồi phục chấn thương trong thể thao: Rest: Nghỉ ngơi. Ice: Chườm đá. Compression: Băng ép, mặc đồ bó sát. Giúp chia tách và ép chặt các khối cơ đùi, lưu thông máu, giúp hồi phục chấn thương nhanh hơn. Elevation: Gác cao chân. Giúp máu tĩnh mạch về tim dễ hơn, giảm sưng, phù nề.

Vo2max: Là lượng oxy tối đa mà cơ thể bạn tiêu thụ trong lúc tập luyện, làm cụm từ viết tắt của Maxium Volume of Oxygen

Biết những thuật ngữ trên đã giúp mình hiểu Crush mình viết gì trong blog và đã giúp mình trông có vẻ “sành điệu” hơn khi biết thêm vài cái đơn giản này ^^. Biết thì mới tiếp tục câu chuyện được với crush để trông không bị “quê”. hehe

Have fun ^^

Nguồn tác giả tham khảo: yeuchaybo.com và thehinh.com

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top